Bữa Trưa Thư Giãn

  • Thời gian: 4 hours
  • Phượng tiện: Xe cá nhân/Tàu hỏa/Tàu thủy
  • Điểm đón/trả: Khách sạn
  • Thời gian khởi hành:
  • Điểm tham quan:
từ7,990,000vnđ/1 khách

Với bề dày văn hóa lâu đời cùng quần thể di tích lịch sử được thế giới công nhận, Huế được biết đến như một điểm đến hấp dẫn. Hãy cùng du thuyền của HRS trôi theo dòng Hương hiền hòa ngắm nhìn phong cảnh tuyệt đẹp, kiến trúc độc đáo. Thưởng thức bữa ăn trưa thư giãn trên thuyền và lưu lại những bức ảnh tuyệt đẹp sau khi tham quan ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng.


Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bến Tòa Khâm

Địa chỉ: số 32 đường Lê Lợi, thành phố Huế.
Toà Khâm sứ Trung kỳ được khởi công xây dựng vào mùa hạ, tháng 4 năm 1876 (Tự Đức 28), và hoàn thành vào tháng 7 năm 1878. Sau khi xây dựng và đặt xong bộ máy cai trị, Toà Khâm sứ Trung kỳ trở thành thủ phủ của chế độ thực dân ở Trung kỳ, chi phối toàn bộ hoạt động của nhà nước phong kiến triều Nguyễn.

Tại đây, tháng 4 năm 1908 đã diễn ra cuộc biểu tình đòi giảm sưu giảm thuế của nhân dân Thừa Thiên Huế. Cuộc biểu tình diễn ra từ ngày 9 tháng 4 năm 1908 và cao trào là ngày 11.4.1908 khi nông dân 6 huyện kéo về bao vây Toà Khâm sứ đưa yêu sách. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó còn là học trò cùng với một số học sinh Quốc Học khác cũng tham gia đoàn biểu tình chống sưu thuế, dùng vốn kiến thức tiếng Pháp để giúp bà con với tư cách là thông ngôn.

Toà Khâm sứ ngày nay không còn, nó đã đổ nát hoàn toàn vào năm 1945. Nhưng để ghi nhớ lại địa điểm này, nơi đã chứng kiến những hành động yêu nước đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế đã dựng biểu tượng Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) tham gia phong trào đấu tranh chống thuế năm 1908 để kỷ niệm.

Cầu Trường Tiền

Cầu Trường Tiền là một cây cầu thép vững chắc với kết cấu và kỹ thuật xây dựng văn minh của phương Tây – cầu Trường Tiền khiến cho chính quyền thực dân không khỏi tự hào. Viên toàn quyền Đông Dương tự đắc tuyên bố: “Khi nào cầu sập thì Pháp sẽ trả độc lập cho nước Nam”. Không ngờ chỉ sau 5 năm (năm Nhâm Thìn – 1904), cơn bão lịch sử đã xô đổ cây cầu thép; cầu có 6 vài thì 4 bị hất đổ xuống lòng sông. Năm 1906, cầu được tu sửa lại, và mặt cầu được đúc bằng bê tông cốt thép.

Năm 1937, dưới triều vua Bảo Đại, cầu Trường Tiền được trùng tu, cải tạo lớn. Cầu được mở rộng hành lang hai bên cho xe đạp và người đi bộ. Ở hành lang tại vị trí trụ cầu giữa 2 vài có các bao lơn (ban công) phình rộng ra – là nơi nghỉ chân, ngắm cảnh hay tránh nhau.

Năm 1946, cầu bị sập hai phía tả ngạn do mìn trong chiến tranh Việt – Pháp. Hai năm sau, cầu được tu sửa tạm để qua lại. Năm 1953 cầu được sửa chữa hoàn chỉnh như cũ.

Trong sự kiện tổng tiến công mùa Xuân năm 1968, cầu Trường Tiền một lần nữa lại đổ gục xuống lòng sông Hương. Tại thời điểm ngay sau đó, một chiếc cầu phao được dựng tạm lên bên cạnh để nối đôi bờ; rồi cầu được tu sửa tạm thời.

Sau khi kết thúc chiến tranh, đất nước hòa bình thống nhất (1975); mãi tới năm 1991 cầu Trường Tiền mới được trùng tu lần nữa. Lần khôi phục, trùng tu này kéo dài trong 5 năm (1991-1995), do Công ty Cầu 1 Thăng Long đảm nhiệm. Ở lần trùng tu này có nhiều thay đổi quan trọng: Đó là việc dỡ bỏ các ban công ở hành lang hai bên tại vị trí các trụ cầu; lòng cầu (cả đường chính và phụ) bị hẹp lại do phải nẹp thêm hai ống lan can (độ rộng lòng cầu của đường chính ở giữa từ 6,20m nay còn 5,40m); màu sơn ghi xám thay cho màu nguyên bản từ xưa của cầu là màu nhũ bạc; tấm biển đồng gắn ở đầu cầu ghi chữ “Cầu Tràng Tiền” thay cho “Cầu Trường Tiền” tạo nên một sự thiếu thống nhất về tên gọi cây cầu.

Từ Festival Huế năm 2002, cầu Trường Tiền được lắp đặt một hệ thống chiếu sáng đổi màu hiện đại, điều khiển bằng phần mềm lập trình. Khi chiều buông, cũng là cây cầu bắt đầu rực rỡ huyền ảo trong ánh đèn màu.

Nghênh Lương Đình

 

Trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình cũng là một công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn, dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát. Trước đây, người ta phải ngăn con đường đi từ cửa Thể Nhơn (dân gian còn gọi là cửa Ngăn) ra Nghênh Lương Đình, không cho ai qua lại hoặc thấy mặt vua.

uy không phải là một công trình đặc sắc về kiến trúc hoặc có quy mô lớn, nhưng Nghênh Lương Đình là một bộ phận không thể tách rời của cụm kiến trúc Nghênh Lương Đình-Phu Văn Lâu và Kỳ đài. Nghênh Lương Đình còn đi vào lòng người bằng cái tên “bến Văn Lâu” trong đoạn ca dao bất hủ:

Chiều chiều trước bến Văn Lâu

Ai ngồi, ai câu Ai sầu, ai thảm

Ai thương, ai cảm Ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Cùng với Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình cũng đã qua nhiều lần tu bổ và đang được lập hồ sơ di tích lịch sử cấp quốc gia.

Cồn Dã Viên

Cồn Dã Viên là một hòn đảo nhỏ, nằm trên sông Hương, phía trước – bên phải Kinh thành Huế (theo hướng nhìn từ trong thành ra). Khi xây dựng Kinh thành Phú Xuân vào đầu thế kỷ 19, vua Gia Long và các nhà quy hoạch, phong thuỷ thời Nguyễn đã chọn cồn Dã Viên là yếu tố “Bạch Hổ” cho Kinh thành (cùng với cồn Hến là yếu tố “Thanh Long” – nằm bên trái) – theo thuật phong thuỷ.

Cồn Dã Viên có hình thoi dài hướng đông – tây theo hướng dòng chảy sông Hương tại khu vực này, nằm lệch về phía bờ nam sông Hương, gần phường Đúc. Cũng như cồn Hến, cồn Dã Viên được hình thành từ sự bồi lắng phù sa của sông Hương; cồn có chiều dài 890m, rộng 185m, với diện tích khoảng 107.970m2.

Tuy nhiên, tên chính thức của cồn Dã Viên thì phải đến đời vua thứ tư nhà Nguyễn – vua Tự Đức mới có. Nhà vua đặt tên cho khu vườn này là “Dữ Dã Viên” (vườn Dữ Dã). Chữ “Dữ Dã” được rút gọn từ bốn chữ “Ngô dữ Điểm dã” – được lấy từ một điển tích về Đức Khổng Tử và các học trò của mình, cách thời vua Tự Đức khoảng 2.350 năm; được chép trong sách Luận ngữ; mà vua rất tâm đắc. Tên vua đặt là “Dữ Dã Viên”, nhưng người dân Huế lại gọi rút gọn thành “Dã Viên”, và cuối cùng “Dã Viên” thành tên chính thức gắn với những địa danh, công trình ở đây như Cồn Dã Viên, cầu Dã Viên, nhà máy nước Dã Viên.

Bia Quốc Học

Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong (Bia Quốc Học).

Đài tưởng niệm những binh sĩ người Pháp và người Việt đã bỏ mạng trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), tọa lạc sát bờ nam sông Hương, trước mặt trường Quốc Học Huế. Đài được khởi công xây dựng ngày 12/5/1920, hoàn thành ngày 18/9/1920. Đồ án thiết kế đài tưởng niệm này của ông Tôn Thất Sa, giáo viên hội họa trường Bá Công Huế.

Đài được xây dựng dưới hình thức một chiếc bình phong truyền thống có mái che giả ngói. Thân và bệ đài được trang trí bằng các mô típ rồng, lân, chữ thọ cách điệu, mai, lan, cúc, trúc hết sức linh hoạt, và đạt hiệu quả cao. Phía trước đài, xây hai trụ biểu cao bằng gạch khiến đài càng có vẻ uy nghiêm. Mặt trước thân đài trước đây có ghi tên 31 người Pháp và 78 người Việt, sau bị xóa. Đài tưởng niệm chiến sĩ Trân Vong tuy xây dựng theo đường lối mị dân của thực dân Pháp nhưng lại bị một di tích có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật. Di tích này đặc biệt phù hợp với trường Quốc Học và cảnh quan cổ kính thơ mộng bên dòng sông Hương.

Trở về bến Tòa Khâm.

Bao gồm:

  • Phí phục vụ và VAT
  • Bảo hiểm
  • 01 đồ uống không cồn
  • Thực đơn trưa sang trọng.

Không bao gồm:

  • Đón/ tiễn khách đến bến thuyền
  • Chi phí cá nhân

BẠN ĐANG TÌM KIẾM NHỮNG GỢI Ý KHI ĐI DU LỊCH TẠI VIỆT NAM?

Khách sạn, xe du lịch, tour trọn gói, đặc sản địa phương và các kinh nghiệm du lịch…